Sẹo Lồi

Sẹo hình thành là dấu hiệu của vết thương đang lành, nhưng tùy từng cơ địa và yếu tố tác động mà có thể hình thành sẹo bình thường, sẹo lồi, sẹo lõm. Trong đó, sẹo lồi là sẹo gồ trên bề mặt da, thường gây đau, ngứa, mất thẩm mỹ. Hãy cùng các chuyên gia tại Deepclinics tìm hiểu về các phương pháp điều trị sẹo lồi hiệu quả qua bài viết dưới đây. 

1. Đại cương

Sẹo lồi (keloids) và sẹo quá phát (hypertrophic scar) là tình trạng đáp ứng quá mức của mô da cái các tổn thương ban đầu đặc trưng bởi sự tăng nguyên bào sợi, sản sinh quá mức collagen tại tổn thương. Cơ chế bệnh sinh hình thành sẹo là do quá trình liền vết thương kéo dài và rối loạn trong giai đoạn viêm dẫn đến kết quả là tăng tổng hợp và giảm thoái hóa chất nền ngoại bào.

2. Lâm sàng

Sự khác biệt giữa sẹo lồi và sẹo quá phát là sẹo quá phát không vượt quá ranh giới vết thương ban đầu, không có yếu tố gia đình và thoái triển theo thời gian. 

Sẹo quá phát: 

+ Là khối tăng sinh xuất hiện sau các vết thương trên da 1 – 2 tháng và phát triển nhanh đến 6 tháng sau đó thoái lui dần. 

+ Khối sẹo phát triển không vượt quá ranh giới vết thương ban đầu. Sẹo quá phát hiếm khi

cao hơn 4mm so với bề mặt da, thường có màu hồng, đỏ. Sẹo có thể gặp bất kỳ vị trí nào. 

+ Triệu chứng cơ năng có thể ngứa, có thể gây hạn chế vận động khi mô sẹo đi qua các khớp. 

Sẹo lồi:

+ Có thể xuất hiện bất kể vùng da nào, tuy nhiên một số vùng ngực, vai, lưng trên, sau cổ, trước xương ức, dái tai là những vị trí thường gặp hơn. 

+ Sẹo xuất hiện sau chấn thương, vết thương, trứng cá hoặc có thể tự phát. Khối sẹo phát triển cao lên và rộng ra, xâm lấn vào tổ chức da lành xung quanh, vượt quá giới hạn của tổn thương da ban đầu. 

+ Màu sắc từ màu hồng đến màu nâu hoặc đỏ, có nhiều mạch máu dưới lớp biểu mô sẹo.

Một số seo có tăng sắc tố. Sẹo có thể mềm hoặc chắc, cứng, một sốsẹo co kéo gây hạn chế vận động.

+ Triệu chứng cơ năng: thường ngứa và đau. 

+ Seo lồi thường không thoái triển theo thời gian mà có thể tiến triển tăng dần. Điều trị các khó khăn, tỷ lệ tái phát cao. 

+ Biến chứng tại chỗ hiếm gặp. Một số trường hợp sẹo loét lâu lành, đôi khi có thể ung thư như ung thư tế bào gai.

Các loại sẹo lồi hiện nay: 

1. Sẹo ổn định Sẹo phẳng, sáng màu 
2. Sẹo chưa ổn định Đỏ, đôi khi ngứa hoặc đau, cao lên trong quá trình tổ chức lại sẹo. Nhiều sẹo trưởng thành theo thời gian sẽ trở nên phẳng, màu sắc sẹo dần dần giống với màu da xung quanh mặc dù chúng có thể nhạt màu hay sẫm màu hơn. 
3. Sẹo quá phát thành dải (sau phẫu thuật, chấn thương) Trong vài tuần sau phẫu thuật, sẹo cao hơn, đỏ, đôi khi có ngứa, giới hạn trong ranh giới vết thương ban đầu. Sẹo có thể tăng kích thước nhanh trong 3-6 tháng, sau đó là giai đoạn ổn định và bắt đầu thoái triển. Thời gian sẹo trưởng thành mất khoảng 2 năm.
4. Sẹo quá phát lan tỏa (sẹo bỏng): Sẹo gồ cao, lan rộng, đỏ, đôi khi có ngứa, chưa vượt quá ranh giới vết thương ban đầu.
5. Sẹo lồi nhỏ: Sẹo khu trú, ngứa, gồ cao, lan rộng trên nền mô da bình thường, có thể phát triển đến 1 năm sau chấn thương và không tự thoái triển, vị trí điển hình như sẹo dái tai
6. Sẹo lồi lớn Sẹo lớn, lan tỏa, chiều rộng > 0,5cm, có thể có ngứa, đau, sẹo có thể xuất hiện sau chấn thương nhỏ và phát triển theo thời gian.

3. Mô bệnh học

Kết quả hình ảnh cho sẹo lồi

Sẹo quá phát: ở vật kính 200X thấy thượng bì phẳng, trung bì nông và sâu thay thế bởi mô sẹo, trung bì tăng sinh chủ yếu là collagen type III sắp xếp song song với bề mặt da, theo trục của sẹo.

Sẹo lồi: ở vật kính 400X thấy những sợi collagen type I và III dày, một phần sắp xếp song song với thượng bì, một phần xếp đan chéo thành những khối u xơ.

4. Điều trị

– Về nguyên tắc, sẹo lồi và sẹo quá phát là những tổn thương lành tính. Mục đích điều trị là để cải thiện triệu chứng cơ năng (ngứa, đau), khiếm khuyết chức năng (co rút, hạn chế vận động) và đặc biệt nhu cầu về thẩm mỹ là lý do chính khiến bệnh nhân mong muốn điều trị. Mục tiêu điều trị phải dựa trên mỗi cá nhân và hướng đến nhu cầu của bệnh nhân. Đánh giá hiệu quả điều trị sau 3 – 6 tháng và thay đổi phương pháp sau 3 – 6 lần điều trị, trong trường hợp không thành công nên chuyển/kết hợp phương pháp khác/tăng liều. 

Hiện nay, chưa có một phương pháp điều trị sẹo nào thành công trong tất cả các trường hợp như: đạt được sự giảm độ dày sẹo, cải thiện chức năng và/hoặc thẩm mỹ. Lựa chọn đầu tiên trong bài viết này không phải là tiêu chuẩn cho tất cả các trường hợp bởi vì có nhiều thông số ảnh hưởng đến quá trình phát triển và thoái lui của sẹo (ví dụ: vị trí, tuổi, loại sẹo, yếu tố di

truyền…). Thông thường phải kết hợp các phương pháp điều trị khác nhau.

5. Khuyến cáo điều trị sẹo lồi và sẹo quá phát theo Hội phẫu thuật da Hoa Kỳ năm 2014

5.1. Khuyến cáo điều trị sẹo quá phát

– Sẹo quá phát chưa ổn định: 

+ Bước 1: điều trị bằng silicon gel hoặc miếng dán, băng dính giấy ít gây dị ứng hoặc sản phẩm chiết xuất từ hành, sau 1 tháng sẹo còn đỏ. 

+ Bước 2: chuyển sang điều trị theo phác đồ của sẹo quá phát thành dải, hay sử dụng laser

màu xung (PDL) 1 tháng/lần trong 2 – 3 tháng. Nếu không đáp ứng chuyển laser fractional. 

– Sẹo quá phát thành dải: 

+ Bước 1: sử dụng silicon (gel hay miếng dán) trong 2 tháng. Nếu không đáp ứng, sẹo ngứa

và sẹo nặng, chuyển sang bước 2. 

+ Bước 2:

  • Lựa chọn đầu tiên: tiêm corticoid hoặc 5-FU nội thương tổn. 
  • Lựa chọn thứ 2: liệu pháp laser màu xung (PDL) hoặc laser fractional.
  • Lựa chọn thứ 3: liệu pháp áp lực.

+ Bước 3: sau thời gian điều trị bảo tồn 12 tháng thất bại, cân nhắc lựa chọn phẫu thuật và sử

dụng các liệu pháp điều trị hỗ trợ khác như silicon hay tiêm corticoid tùy mức độ.

5.2 Khuyến cáo điều trị sẹo lồi

Hình ảnh có liên quan

-Sẹo lồi nhỏ:

+Lựa chọn đầu tiên: silicon kết hợp tiêm corticoid nội thương tổn hàng tháng có hoặc chuyển 5-FU kết hợp với hợp thêm với liệu pháp lạnh bề mặt hoặc nội thương tổn, hoặc chuyển 5-FU tế corticoid tiêm nội thương tổn. 

+ Sau 8 – 12 tuần không cải thiện với điều trị trên, chuyển laser hoặc phẫu thuật 

+ Phẫu thuật kết hợp với silicon hoặc/và tiêm corticoid. 

– Sẹo lồi lớn: 

+ Lựa chọn đầu tiên: corticoid tiêm nội thương tổn có/không kết hợp với liệu pháp lạnh. 

+ Sau 3 – 4 tháng không cải thiện, dùng 5-FU đơn độc/kết hợp corticoid tiêm nội thương tổn.

+ Laser bào mòn hoặc phẫu thuật kết hợp với corticoid và/hoặc silicon.

XEM THÔNG TIN CHI TIẾT

HOTLINE: 089 856 5588

Địa chỉ: Số 4, dãy NV3. Khu nhà cán bộ viện 103, Đô thị Văn Quán, Hà Đông (cuối đường Nguyễn Khuyến)

Website: deepclinics.com

Nguồn: tài liệu chuyên môn Da Liễu 

Share It

Tin liên quan

Liên hệ các kênh: