Share It
Da liễu/

Sẹo Lõm

Trong số các loại sẹo thì sẹo lõm là loại cứng đầu và khó chữa nhất. Sẹo lõm  là những hõm sâu trên da tạo thành các ô lõm với nhiều kích cơ và hình dáng khác nhau gây mất thẩm mỹ cho da của bạn, đặc biệt ở phần da mặt.

1. Sẹo lõm là gì?

Sẹo lõm là hậu quả của quá trình viêm tại da gây phá vỡ cấu trúc collagen nằm dưới lớp hạ bì. Thiếu hụt collagen và fibrin ở các mô làm cho tổn thương viêm bị lõm xuống tạo thành sẹo lõm.

Có nhiều nguyên nhân gây sẹo lõm như trứng cá, thủy đậu, chấn thương… Trong đó, sẹo lõm ở mặt do trứng cá là tình trạng hay gặp nhất, gây ảnh hưởng lớn tới cuộc sống của người bệnh.

Kết quả hình ảnh cho sẹo lóm

2. Lâm sàng

– Sẹo lõm do trứng cá thường gặp hơn sẹo lồi và sẹo quá phát. 

Gồm 3 loại chính: 

+ Sẹo hình phễu (icepick scars) hay sẹo hình chữ V: đường kính sẹo dưới 2 mm, hình phễu.

đáy nằm sâu ở lớp trung bì hoặc mô dưới da. 

+ Sẹo đáy hình lòng chảo (rolling scars) hay sẹo chữ M: đường kính 4 – 5 mm. 

Kết quả hình ảnh cho sẹo lóm

Nguyên nhân do các sợi xơ từ lớp trung bì dính với lớp thượng bì gây co kéo tạo nên sẹo có đáy lòng chảo, bề mặt sẹo tương đối bình thường.

+ Sẹo đáy phẳng (boxcar scars) hay sẹo hình chữ U: thường có hình tròn hay hình oval, bờ sẹo thẳng đứng, đường kính sẹo từ 1,5 đến 4 mm. Sẹo đáy phẳng phân làm 2 nhóm: 

  • Sẹo nông: đáy sâu từ 0,1 – 0,5mm.
  • Sẹo sâu: đáy sâu > 0,5mm. 

Trong đó, sẹo hình phễu chiếm 60 – 70%, sẹo lòng chảo chiếm 15 – 25%, sẹo đáy phẳng chiếm 20 – 30%. Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy tất cả 3 loại sẹo này trên cùng một bệnh nhân và cũng rất khó để phân biệt chúng.

4. Điều trị sẹo lõm

4.1. Có nhiều phương pháp điều trị sẹo lõm

– Lựa chọn phương pháp điều trị sẹo lõm do trứng cá phụ thuộc nhiều yếu tố:

+ Đặc điểm chung: tuổi, type da, bản chất sẹo lõm, độ nặng của sẹo. 

+ Mong muốn, mục tiêu điều trị của người bệnh. 

+ Thời gian nghỉ dưỡng của người bệnh (downtime: thời gian phục hồi nhanh sẽ dễ chấp nhận ở người đi làm). Trong đó, bản chất sẹo lõm và độ nặng của sẹo lõm là yếu tố chính để đưa ra những chỉ định điều trị thích hợp, có thể kết hợp nhiều phương pháp trên cùng một bệnh nhân.

4.2. Một vài phương pháp điều trị sẹo lõm sau trứng cá hiện nay

Trị sẹo lõm - hình dáng và kích thước của từng loại sẹo trên bề mặt da.

Một số hình dáng và tỷ lệ sẹo lõm điển hình trên bề mặt da 

4.2.1. Kỹ thuật Cross – tái tạo sẹo bằng hoá chất

Là kĩ thuật khá đơn giản và hiệu quả trong điều trị sẹo hình phễu. 

Cách thực hiện: sử dụng acid tricloacetic (TCA) nồng độ cao từ 65 đến 100% để chấm vào đáy của sẹo bằng đầu tăm nhọn. Trung bình sẹo được cải thiện khoảng 25% qua mỗi lần làm. Vì vậy, khuyến cáo lặp lại CROSS khoảng 2 – 3 lần, cách nhau từ 2 – 4 tuần. 

4.2.2. Subcision (cắt mô sợi co kéo)

Là phương pháp sử dụng kim Nokor hoặc dao mổ số 11 (đầu mũi kim Nokor thực chất là dao mô hình tam giác) để phá các sợi co kéo ở đáy sẹo. Sát mũi dao có một lỗ thông. Gắn kim vào xi-lanh chứa nước muối sinh lý hoặc thuốc tê, đâm kim vào vùng chu vi sẹo, luôn song song đáy seo sau đó dịch chuyển kim để cắt các sợi co kéo, tiếp theo là bơm dung dịch nước muối sinh lý hoặc thuốc tế để giải phóng đáy sẹo ra khỏi các sợi co kéo. Do đó, phương pháp này có hiệu quả nhất trong điều trị sẹo lòng chảo. 

Nhược điểm: tỷ lệ sẹo tái phát cao, hiệu quả điều trị ở mức độ ít đến trung bình. 

Tác dụng phụ chủ yếu là đau tại chỗ, sưng nề, đỏ, bầm tím… thường hết trong 3 – 4 ngày sau điều trị. 

4.2.3. Lăn kim (liệu pháp tăng sinh collagen) 

– Là phương pháp sử dụng kim với những mũi kim siêu nhỏ, sắc nhọn, lăn trên bề mặt da nhằm tạo nên những kênh siêu nhỏ sâu tới trung bì, kích thích cơ thể tăng tổng hợp collagen mới. Chỉ định: tốt trong sẹo đáy phẳng nông. Các loại sẹo khác hiệu quả kém hơn. Kĩ thuật: tiến hành lăn kim trên vùng sẹo lõm cần điều trị theo 4 hướng (ngang, dọc, 2 đường chéo).

Lăn kim khoảng 4 – 10 lần cho một vùng diện tích điều trị để đạt 250 – 300 mũi kim/cm^. Lặp lại sau mỗi 4 tuần điều trị.

– Ưu điểm: đơn giản, dễ áp dụng, ít tác dụng phụ, chi phí thấp, không cần trang thiết bị hiện đại. 

– Nhược điểm: hiệu quả trong điều trị sẹo lõm sau trứng cá còn khiêm tốn, chủ yếu chỉ tác dụng đối với sẹo đáy phẳng nông. 

Số lần điều trị: hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy cần ít nhất 2 lần, khoảng cách giữa các lần 4 – 8 tuần. 

4.2.4. Laser

  • Laser bào mòn: 

 Laser CO2 làm bốc bay tổ chức đến độ sâu 20 – 60 um và tạo vùng tổn thương nhiệt khoảng 20 – 50 km. Với bước sóng là 10600 nm, laser CO2, bị hấp thụ bởi nước trong và ngoài tế bào, do đó nhanh chóng làm bốc bay tổ chức. Tổn thương nhiệt của trung bì ngay dưới vùng bào mòn sẽ khởi động quá trình liền vết thương, tân tạo collagen và làm co các mô xung quanh. Sự tái tạo thượng bì diễn ra 5 – 10 ngày sau đó, nhưng dát đỏ có thể kéo dài đến vài tháng. Tác dụng phụ chủ yếu là rối loạn sắc tố (tăng hoặc giảm), nhiễm khuẩn, tạo sẹo… Hiện nay phương pháp này dần được thay thế bằng laser fractional CO2. 

– Laser không bào mòn: ngày càng được sử dụng trong điều trị sẹo lõm trứng cá vì ít tác dụng phụ và không đòi hỏi chăm sóc quá cẩn thận sau thủ thuật. 

– Laser fractional CO2: hiện nay là lựa chọn ưu tiên cho sẹo lõm trứng cá, đặc biệt sẹo đáy phẳng. 

+ Là sự kết hợp của công nghệ laser CO2 truyền thống và công nghệ vi điểm, tạo các vị tổn thương nhiệt trong da. Laser vi điểm có tác dụng chọn lọc đối với trung bì, tạo đáp ứng lành vết thương, kích thích tân tạo collagen và không hề gây tổn thương thượng bì. Điều này giải quyết các hạn chế của laser tái tạo bề mặt, mài da và lột mặt bằng hóa chất. Vùng da được điều trị thường lành vết thương trong 24 giờ, nhanh hơn so với laser bào mòn là 2 tuần. 

+ Số lần điều trị: chưa có khuyến cáo cụ thể. Có 4 nghiên cứu chỉ thực hiện 1 lần điều trị duy nhất bằng laser fractional CO2, kết quả cho thấy cải thiện sẹo ở khoảng 50%. Các nghiên cứu với 2 – 3 lần điều trị cho kết quả cao hơn. 

+ Khoảng cách giữa các lần điều trị: thông thường 1 tháng làm 1 lần. Bjron và cộng sự chỉ ra rằng 1 tháng hay 3 tháng làm 1 lần không ảnh hưởng đến kết quả điều trị, nhưng 3 tháng làm 1 lần cho ít tác dụng phụ hơn. Hiện nay nhiều tác giả khuyến cáo điều trị 3 tháng 1 lần. 

+ Số pass: thông thường chỉ cần 1 pass duy nhất vào toàn bộ mặt là đủ để đạt hiệu quả, hạn chế tác dụng phụ. Một số tác giả chủ trương chỉ laser vào các tổn thương sẹo. 

+ Mức năng lượng: so sánh 13 nghiên cứu dùng laser fractional CO, điều trị sẹo lõm cho thấy mức năng lượng từ 50mJ trở lên cho kết quả điều trị sẹo tốt hơn. Tuy nhiên lại nhiều tác dụng phụ hơn như: thời gian hồi phục dài hơn, tăng tỉ lệ tăng sắc tố, thời gian đỏ da và phù nề, bong vảy cao hơn. Năng lượng cao cho đường kính và độ sâu của cột hoại tử cao hơn so với năng lượng thấp vì thế phù hợp với những tổn thương sẹo lõm sâu.

+ Mật độ điều trị: có thể được tính bằng số MTZs/cm2 hoặc theo %. Mật độ điều trị cao là một trong những yếu tố làm tăng tác dụng phụ của phương pháp. Khi sử dụng năng lượng cao nên sử dụng mật độ điều trị thấp để hạn chế tác dụng phụ. 

+ Tác dụng phụ: 

  • Đau: gặp phần lớn bệnh nhân điều trị bằng laser CO2.Đau tăng lên khi tăng mật độ điều trị hơn là tăng năng lượng. Cần tê tại chỗ trước điều trị. 
  • Tăng sắc tố sau viêm: thông thường tự hết trong vòng 3 tháng hoặc có thể dùng thuốc điều trị. Tăng sắc tô sau viêm liên quan chặt chẽ với mật độ điều trị. Cùng mức năng lượng cao là 75 – 105mJ nhưng mật độ điều trị thấp và trung bình thì tăng sắc tố sau viêm chỉ là 9,6%: thấp hơn nhiều so với mật độ điều trị cao là 30% (nghiên cứu cao nhất là 92%). 
  • Đỏ da: gặp toàn bộ bệnh nhân ngay sau điều trị. Thường đỏ da nhẹ đến trung bình (trung bình kéo dài 2,87 ngày). Đỏ da có thể kéo dài dai dẳng 1 tháng nếu điều trị với mật độ điều trị hoặc năng lượng cao. 
  • Vảy tiết, bong vảy da thường kéo dài 1 tuần. Sự bong vảy tiết hay vảy da không liên quan tới đỏ da sau laser. 
  • Các tác dụng phụ khác: tái hoạt virus, chảy máu, xuất huyết, cảm giác bỏng rát, viêm da tiếp xúc dị ứng có thể gặp nhưng thấp. 

4.2.5. Radiofrequency (RF) vi điểm

RF vị điểm là một công nghệ không bào mòn mới, gồm 2 hệ thống: hệ thống không xâm nhập sử dụng các điện cực và hệ thống xâm nhập sử dụng các kim nhỏ sắp xếp tạo thành cặp RF lưỡng cực. RF vi điểm xâm nhập giải phóng dòng điện tại một độ sâu xác định trong trung bì mà không gây tổn thương thượng bì.

Liệu trình điều trị ít nhất 3 – 5 lần, khoảng cách 4 – 6 tuần/lần. Mức năng lượng và độ sâu kim phụ thuộc loại sẹo lõm và vị trí điều trị. 

Tác dụng phụ hầu như không đáng kể, chủ yếu là đau khi tiến hành, dát đỏ thoáng qua… Là phương pháp khá an toàn cho type da tối màu. 

Hiệu quả tương đương hoặc kém hơn so với laser fractional CO2 nhưng ít tác dụng phụ hơn.

4.2.6. Huyết thanh giàu tiểu cầu (PRP – Platelet Rich Plasma)

Hiện nay được coi là một phương pháp hỗ trợ khá tốt cho các phương pháp điều trị sẹo lõm nói trên. PRP là huyết tương chứa đậm đặc tiểu cầu > 1000000/ul và các yếu tố tăng trưởng. Các yếu tố tăng trưởng được giải phóng từ tiểu cầu hoạt hóa có tác dụng: KGF (keratinocyte growth factor) phát triển, làm mới tế bào sừng; EGF (epidermal growth factor) tăng phát triển tế bào thượng bì, tăng sinh mạch, tăng lành vết thương, FGF (fibroblasr growth factor) Sữa chữa mô, tăng sản xuất collagen; TGF-B (transforming growth factor beta) phát triển tế bào thượng bì, tế bào nội mô, tăng quá trình lành vết thương, tăng tổng hợp collagen type 1. Chỉ ra PRP kết hợp với fractional CO2 cho kết quả điều trị sẹo cao hơn, ít tác dụng phụ hơn và thời gian downtime ngắn hơn…

4.2.7. Kết hợp các phương pháp điều trị

– Kết hợp RF vi điểm xâm nhập và subcision: năm 2017, Faghihi và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu tiến cứu chia hai nửa mặt trên 25 bệnh nhân sẹo lõm do trứng cá mức độ vừa đến nặng, mỗi tháng 1 lần trong 3 tháng liên tiếp: một bên mặt được điều trị bằng RF vi điểm xâm nhập đơn thuần (lutronic), bên mặt còn lại có sự kết hợp RF vị điểm xâm nhập với phương pháp cắt mô sợi co kéo (subcision). Độ sâu kim tương ứng với 3 pass là 3,5mm; 2,5mm và 1,5mm. Năng lượng RF tối đa trong nghiên cứu này là 50W. Đánh giá tại thời điểm 3 tháng sau kết thúc liệu trình điều trị cho thấy bên mặt được điều trị bằng RF vi điểm xâm nhập kết hợp cắt mô sợi co kéo cho hiệu quả cao hơn hẳn bên mặt điều trị RF vi điểm xâm nhập đơn thuần với tỉ lệ đáp ứng tốt tương ứng là 52% và 32% (p= 0,000 < 0,05). 

– Kết hợp lăn kim và lột da: nghiên cứu của Rana và cộng sự năm 2017 trên 60 bệnh nhân sẹo lõm do trứng cá, chia 2 nhóm: nhóm 1 điều trị bằng lăn kim tuần 0, 6, 12; nhóm 2 điều trị lăn kim tuần 0, 6, 12 và lột da bằng glycolic 70% tuần 3, 9, 15. Kết thúc điều trị cho thấy: nhóm 2 cải thiện điểm sẹo tốt hơn nhóm 1, tương ứng là 39,65 +2,50 và 29,58 +0,18; P < 0,001 (theo thang điểm ECCA).

 – Kết hợp laser với các phương pháp khác (RF, PRP…). 

XEM THÔNG TIN CHI TIẾT

HOTLINE: 089 856 5588

Địa chỉ: Số 4, dãy NV3. Khu nhà cán bộ viện 103, Đô thị Văn Quán, Hà Đông (cuối đường Nguyễn Khuyến)

Website: deepclinics.com

Tin liên quan

Da Liễu /

Viêm nang lông do tắm bồn nước nóng

Viêm nang lông do tắm bồn nước nóng là tình trạng nang lông và các vùng da xung quanh bị nhiễm trùng. Đây là bệnh do một loại vi khuẩn tồn tại trong các bồn tắm nóng gây ra. Để ...
Xem thêm
Da Liễu /

Viêm nang lông do nấm Malassezia (Malassezia folliculitis/ Pityrosporum folliculitis)

Viêm nang lông trông rất giống mụn nội tiết hoặc mụn do vi khuẩn, nhưng thủ phạm không giống như những loại mụn khác. Thay vào đó, nó là sự phát triển quá mức của nấm men xung quanh lông. ...
Xem thêm
Da Liễu /

Các triệu chứng của một số bệnh da liễu 

Bệnh da liễu đã và đang trở thành nỗi lo ngại khi mà chúng ngày càng trở nên phổ biến và gây khó chịu cho nhiều người. Bên cạnh đó, căn bệnh này còn rất khó điều trị dứt điểm ...
Xem thêm
Da Liễu /

Chăm sóc trẻ tại nhà sau thủ thuật sinh thiết da

Sinh thiết da là thủ thuật nhằm lấy một mảnh da kích thước từ 2 đến 5mm để phục vụ cho xét nghiệm mô bệnh học giúp chẩn đoán xác định các bệnh da. Sau khi thực hiện thủ thuật ...
Xem thêm